Văn tế thập loại chúng sinh, còn gọi là Văn chiêu hồn, đã giúp hậu thế có thể hiểu được tầm vĩ đại của tư tưởng của Nguyễn Du. Tác phẩm mang đậm màu sắc Phật giáo được lưu giữ trong những ngôi chùa cổ cùng hoà quyện với tiếng mõ, lời kinh. Thế mà khi nghe và chiêm niệm ta sẽ nhận ra âm vang cũng như màu sắc của cõi đời. Trong tác phẩm nhà thơ chưa nói nhiều về thế giới bên kia. Khóc người chết mà hóa ra thương người đang sống. Âm vang tác phẩm vượt khỏi phạm vi xứ Phật để có thể lan tỏa khắp cõi trần ai và in sâu vào buồng tim nhân ái của hàng vạn con người.

Nguồn gốc áng văn

Văn tế thập loại chúng sinh có thể được sáng tác sau một trận dịch khủng khiếp  đã giết hại hàng ngàn người, cả nước Việt vào lúc ấy nặng nề âm khí; các vị Tăng Ni và Pháp sư ở khắp các chùa đều lập đàn cúng tế, nguyện cầu cho các vong hồn được siêu thăng giải thoát. Trong một số trường hợp đặc biệt văn tế cũng được viết có tính chất khôi hài dùng để cúng người sống. Bài văn có thể là một loại văn vần. Có sự phân biệt tế nhị giữa văn tế và điếu văn. Văn tế thập loại chúng sinh là một bài văn khấn tế, đề cập đến xã hội hồn ma một cách thảm thương nhất. Đó là hình ảnh lộn trái của xã hội trần thế, song khác biệt cơ bản ởđây chính là không đối lập vấn đề giàu nghèo hay sang hèn. Chúng đều giống nhau và cùng chịu cảnh đọa đày, oan khuất và cô đơn nên nhà thơ xót thương tất cả.

Vu Lan đọc văn tế thập loại chúng sinh

Tuy nó là một bài khấn tế nhưng mang tính chất tôn giáo trong văn học Việt Nam và tác phẩm này không hề sử dụng hình thức văn tế biền ngẫu thường thấy, cũng không viết bằng văn xuôi mà chọn thể loại song thất lục bát khiến vần điệu linh hoạt, truyền cảm, có tác dụng khơi dậy lòng trắc ẩn từ phía người đọc cũng như người nghe về nó. Nếu như bài văn của vua Lê nặng nề đề cập về giáo huấn răn đe thì văn chiêu hồn của Nguyễn Du tràn ngập tình yêu thương, thông cảm… Ngoài những phương ngữ và điển tích nhà Phật, ta có thể thấy rõ bài Văn tế Thập loại chúng sinh rât dễ hiểu và có một chất truyền tải sâu sắc bởi giọng thơ cuộn chảy theo những biến tấu bất ngờ của nhịp câu song thất. Văn tế thập loại chúng sinh còn được cho là tác phẩm song thất lục bát duy nhất đã sử dụng nhiều nét rất độc đáo thủ pháp tiểu đối. Chiêu Hồn Ca đã chuyên chở tư tưởng Phật giáo nhất là tín ngưỡng của đạo Phật trong ngày đại lễ Vu Lan, một trong các ngày lễ lớn nhất của Phật giáo. Nguyễn Du quả thật là con người và tín ngưởng đạo Phật.

Văn tế thập loại chúng sinh khắc khoải với phận người

Triết lý Vô thường của nhà Phật về cuộc đời và người đời được Nguyễn Du trình bày một cách dễ hiểu qua mỗi cảnh ngộ của mỗi loại chúng sanh ở trong xã hội của con người : của cải như mây nổi, sắc đẹp thì tàn phai một cách nhanh chóng, công danh địa vị, tranh giành , đấu đá nhau … rồi cũng không đem theo được cái gì cả một khi đi qua bên kia thế giới. Tất cả chỉ là ảo ảnh.

Những tư tưởng nhân văn trong văn tế thập loại chúng sinh

Là một nhà nhân văn chủ nghĩa, Nguyễn Du luôn trải rộng lòng mình để hứng lấy, chở che những kiếp người bất hạnh. Ông đặc biệt quan tâm đến những con người bình thường trong xã hội. Thật hiếm ở đâu như bài văn tế này, nơi hội tụ toàn những cái chết bi thương. Viết Văn chiêu hồn, nhà thơ không đứng từ đài cao quý tộc để cúi xuống cất lời chỉ dạy. Ông bắt đầu từ sự đồng cảm, tri âm. Lòng trắc ẩn khiến tác giả khóc thương cho chính những oan hồn. Khi nói về họ, ông như đang đối thoại với những con người đang sống cùng số phận nhọc nhằn, tủi nhục suốt một kiếp đời phù sinh và họ vẫn chỉ ước sống cuộc đời bình thường. Tinh thần nhân văn khiến nhà thơ ngậm ngùi, suy tưởng về cõi dương thế, nơi những người xấu số đã trải qua. Ông viết về những oan hồn nơi cõi âm, nhưng lại lấy đời người làm trọng. Những câu thơ của ông là một dòng nước mắt, khóc cho nỗi nhọc nhằn, cơ cực của đời người. Bỗng đâu, tai nạn bất ngờ úp chụp. Họ đành chết một cách tức tửi, đớn đau.

Loading...

Văn tế thập loại chúng sinh là một tác phẩm tràn đầy tinh thần nhân văn. Ngoài những phương ngữ và điển tích nhà Phật, nói chung bài Văn tế Thập loại chúng sinh dễ hiểu, dễ cảm thụ bởi giọng thơ cuộn chảy theo những biến tấu bất ngờ của nhịp câu song thất. Bài này đọc lên không biết cô hồn nghe có thể phần nào an ủi họ chăng, nhưng chắc rằng khi bản thân mỗi người nghe thì càng thấy căm thù chính cái xã hội này mà trong đó đa số chỉ là những người thất cơ lỡ vận.