Việc để tang cho người thân đã khuất là một ứng xử có tính nghi lễ. Nghi lễ này dựa trên mối giao cảm tự nhiên như là mặc định của thiên luân đối với người đời trong tương quan huyết thống, thân sơ. Ở Việt Nam việc để tang được chia ra thành đại tang và tiểu tang. Về tiểu tang có 4 bậc còn đại tang thì chỉ có 1 bậc. Đại tang và tiểu tang gồm tất cả 5 bậc có thể gọi là ngũ phục.

Thời gian để tang

Để tang 3 năm

Thời gian để đại tang là 3 năm, nhưng trên thực tế thì người ta chỉ để đại tang có 27 tháng. Trong thơ thì nhà thơ Hồ Xuân Hương cũng đã nói đến vấn đề này. Khi ông Phủ Vĩnh Tường mất thì bà làm bài thơ để khóc ông ta trong đó có hai câu nói về việc để tang. Đại tang dành cho con cái để tang cha mẹ ruột và cha mẹ nuôi, nàng dâu để tang cha mẹ chồng hay vợ để tang chồng hoặc cháu đích tôn thừa trọng để tang ông bà.

Để tang một năm 

Để tang một năm còn gọi là cơ niên. Là việc để tang một năm dành những người đã mất trong gia đình.

Loading...

Để tang 3 tháng 

Để tang 3 tháng còn gọi là ti ma.Là việc để tang trong khoảng thời gian 3 tháng cho những người đã mất trong gia đình.

Người Việt để tang nhưng vẫn theo quan niệm trọng nam khinh nữ

Chúng ta nhận thấy một điều nổi bật nhất trong việc để tang của người Việt là quan niệm trọng nam khinh nữ, chẳng hạn như thời gian vợ để tang chồng là 27 tháng, tức là đại tang. Còn chồng để tang vợ chỉ có một năm và được coi là tiểu tang mà thôi. Một điều đặc biệt nữa là khi người con gái đã đi lấy chồng thì bị coi là ngoại tộc, đúng với quan niệm nữ nhân ngoại tộc và dâu là con rể là khách. Người đàn bà, nếu đã đi lấy chồng, khi mất đi thì được thân nhân để tang một thời hạn ngắn hơn là lúc chết mà chưa có chồng.

Việc để tang đã có từ lâu đời

Việc để tang của người Việt đã thể hiện một nền văn minh lâu đời, có tôn ti trật tự cũng như có phép tắc hẳn hoi và thân sơ phân biệt rõ ràng. Việc để tang cần phải học hỏi và được giáo dục mới biết và thực hiện đúng theo phong tục được. Nhìn vào việc con cái để tang ông bà hay cha mẹ mà người ta có thể phần nào biết được gia đình đó có giáo dục theo nếp Việt hay không.

Ý nghĩa việc để tang của người Việt

Ý nghĩa của việc để tang là nhằm nhắc nhở người sống biểu lộ tình thương yêu, lòng biết ơn và sự hiếu đễ đối với người đã khuất.

Trong thời gian để tang có phải thường gặp điều không may không?

Về vấn đề để tang có thường gặp chuyện chẳng lành hay khôngquan điểm của nhà Phật cho rằng tâm hiếu là tâm Phật và hạnh hiếu là hạnh Phật. Để tang là việc làm biểu thị tình thương yêu cũng như lòng biết ơn và lòng hiếu thảo đối với người quá cố. Đó là nghĩa cử cao đẹp và là nhân thiện. Trên đời này không thể có chuyện trồng cây quýt chua mà có thể hái được quả cam ngọt hay leo trên cây mà bắt được cá cũng như lội dưới nước mà mò được trăng. Theo luật nhân quả của đạo Phật thì chúng ta gieo nhân nào gặt quả nấy. Nhân thiện khi mà nhân tốt lành ắt sinh ra quả thiện, quả tốt lành. Nhân thiện chắc chắn không thể sinh quả bất thiện được.Trong thời gian tang chế nếu bản thân chúng ta có gặp những điều không may thì chẳng qua đó cũng chỉ là trùng hợp ngẫu nhiên. Đúng hơn là khi có người thân vừa qua đời thì trong lòng chúng ta còn vương vấn nhớ thương đau buồn, làm ảnh hưởng đến đời sống tâm lý và dẫn đến một số quyết định trong công việc thiếu sáng suốt, mang lại kết quả không như ý của chúng ta. Còn nói theo lý nhân quả, thì cái nhân xấu ta gieo trước đây, giờ đã đến thời gian trổ quả. Quả xấu ấy lại rơi vào đúng thời gian tang chế khiến ta cảm thấy hoang mang, lo sợ và lầm tưởng rằng mang tang hay gặp chuyện xui xẻo.

Để tiện công ăn việc làm và lo cho đời sống hằng ngày, ngày nay đồ tang phục chỉ được mặc cho đến khi chôn cất thân nhân xong. Sau đó, người ta đeo một cái băng màu đen ở tay áo trái rộng độ 10 phân đối với đàn ông trong trường hợp đại tang và đeo một miếng vải đen nhỏ bằng đầu ngón tay cái ở nẹp áo trước ngực hay ở trên mũ trong trường hợp tiểu tang. Còn đàn bà thì người ta thường vấn khăn trắng hay cài miếng vải đen ở trước ngực phía trái khi mặc áo dài.