Mảnh đất Thăng long ngàn năm văn hiến là nơi quy tụ nhiều ngôi chùa cổ kính có vai trò quan trọng trong đời sống văn hóa tinh thần của người dân. Sẽ thật thiếu sót nếu không kể đến ngôi chùa thờ Từ Đạo Hạnh – vị thiền sư thời Lý, đó là chùa Láng

Chùa Láng, tên chữ Chiêu Thiền Tự xây dựng từ thế kỷ XII đời vua Lý Thần Tông trên đất làng Yên Lãng (tục gọi làng Láng) bên bờ sông Tô Lịch, trước thuộc huyện Thanh Trì, sau thuộc huyện Từ Liêm nay là phường Láng, quận Đống Đa.

Tên chùa có ý nghĩa rằng: “Vì có điều tốt rõ rệt nên gọi là Chiêu. Đây là nơi sinh ra Thiền sư Đại Thánh nên gọi là Thiền”. Người Pháp gọi là Pagode des Dames.

Tục truyền

Chùa tương truyền được xây dựng từ thời vua Lý Anh Tông (trị vì từ 1138 đến 1175). Chùa thờ Thiền sư Từ Đạo Hạnh. Theo truyền thuyết, nhà sư này đã đầu thai làm con trai một nhà quý tộc Sùng Hiền hầu, em vua Lý Nhân Tông. Vì vua Lý Nhân Tông (trị vì từ1072 đến 1127) không có con, nên con trai của ông Sùng Hiền hầu được nối ngôi, tức vua Lý Thần Tông (trị vì từ 1128 đến 1138). Do sự tích ấy mà con của Lý Thần Tông là Lý Anh Tông đã cho xây cất chùa Chiêu Thiền để thờ vua cha và tiền thân của Người là thiền sư Từ Đạo Hạnh. Chùa đã được trùng tu nhiều lần, những lần quan trọng nhất là vào các năm 1656, 1901 và 1989

Cảnh quan và kiến trúc

Chùa có cảnh quan đẹp, được miêu tả rõ trong tấm bia có niên đại Thịnh Đức thứ tư (1656): “Thật là danh lam bậc nhất, thế gian không có chùa nào sánh kịp. Khí tốt phượng thành bên hữu tỏa khắp, dòng sông Tô Lịch bên tả lượn vòng, Nhị Hà nghìn dặm quanh kinh đô uốn khúc, như rồng xanh lớp lớp chầu về, Tản Viên dãy núi đầy khí đẹp hướng vào, như hổ trắng đàn đàn đến họp”. Giờ đây, mặc dù xung quanh luôn ồn ào xe cộ, nhưng chùa Láng vẫn là chốn thiền lặng, bình yên, như tách hẳn bụi trần.

Các bộ phận kiến trúc mỹ thuật và cảnh quan rộng lớn, phong phú đẹp đẽ gồm 3 lớp tam quan, đường thần đạo, sân, nhà bát giác, tiền đường, trung đường, thượng điện, nhà chuông, nhà khách, khu thờ tổ, thờ mẫu và vườn tháp mộ.

Cổng chùa có kết cấu 4 cột trụ vuông, 3 mái cong gắn vào sườn cột. Phía ngoài, chính giữa cổng tam quan treo một bức hoành phi lớn được sơn son thếp vàng đề 4 chữ “Thiền thiên khải thánh” (trời thiền sinh thánh) nhắc mọi người về một chốn linh thiêng. Phía dưới là đôi câu đối được ghép bằng những mảnh sứ màu xanh lam theo lối khải thư, nét chữ mềm mại, bay bướm làm tăng thêm vẻ cổ kính, trang trọng cho đại danh lam cổ tự này.

Bước qua lớp cổng thứ hai, dọc đường thần đạo, hai hàng muỗm cổ thụ thẳng hàng, gốc rễ sù sì, mỗi gốc cỡ vài vòng tay ôm, hàng trăm năm vẫn thâm nghiêm rợp bóng. Thấp thoáng ẩn hiện trong nắng tinh khôi những hàng cau thẳng tắp, những cây đại cằn cỗi rụng hoa trắng gốc. Đến độ khai hoa, hương bưởi, hương cau quyện hoà, toả mùi thơm dìu dịu khiến người ta quên đi những mệt nhọc, toan tính đời thường.

Điểm nhấn về nghệ thuật kiến trúc phong thủy là nhà bát giác ở giữa sân chùa, mái chồng, 2 tầng, 16 mái với những đầu đao cong vút, uốn lượn rất thanh thoát. Các tầng mái được lợp ngói vẩy, rêu phong đã phủ lớp bụi thời gian lên những tầng mái này. Đỉnh nóc được đắp hoạ tiết 4 con phượng đang múa (phượng vũ) uyển chuyển. Tầng mái bên trên đắp 8 con rồng cuộn nhìn uy vũ mà bao dung, tượng trưng cho sự tồn tại của 8 triều vua nhà Lý.

Tầng mái phía dưới lại đắp hoạ tiết những dải sấu miệng ngậm các đầu đao, khiến cho các đầu đao được phô ra rất khéo, không bị cảm giác sắc nhọn, mà rất hài hoà. Dưới mỗi đầu đao là các đầu bẩy có gắn những bức cốn được chạm khắc hình rồng, phượng ẩn hiện trong mây với các hoạ tiết vô cùng tinh xảo, mềm mại. Tường phía trong nhà bát giác là những bức thư hoạ, nét bút có thần với nhiều chủ đề phong phú, có giá trị nghệ thuật cao.

Trong chùa có 198 pho tượng lớn nhỏ, tiêu biểu là tượng Lý Thần Tông (1128 – 1138) ngồi trên ngai vàng và pho tượng Từ Đạo Hạnh đan bằng mây phủ sơn bên ngoài.

Chùa Láng còn có 15 tấm bia đá, nổi bật là tấm bia đá xanh có niên đại Thịnh Đức thứ tư (1656) cao 1,4 mét, rộng 0,8 mét. Trán bia có hoa văn lưỡng long chầu nguyệt, hai diềm bia chạm phượng chầu hoa sen và hai tiên nữ với đôi cánh rướn bay lên trời xanh. Tấm bia này xứng đáng được coi là một kiệt tác điêu khắc nghệ thuật đá thời Lê. Trước đây, chùa còn cả cuốn kinh bằng đồng lá (bát diệp đồng thư) của vua Lý thường dùng để tụng niệm, nay đã thất lạc.

Lễ Hội

Hội chùa Láng diễn ra vào ngày 7-3 âm lịch, trước đây có tục rước kiệu lội qua sông Tô lên làng Dịch Vọng Tiễn để thăm mẹ Từ Đạo Hạnh được thờ ở chùa Hoa Lăng.

Tại hội chùa Láng, phần lễ được tái hiện lại dưới hình thức đấu thần (diễn tả lại cuộc đấu giữa Từ Đạo Hạnh và Đại Điên). về phần hội, nhiều trò chơi dân gian như “bịt mắt đập niêu”, “thi thổi cơm”… thể hiện tinh thần đoàn kết, tạo cơ hội kết duyên cho các cặp nam thanh nữ tú. Vào những ngày này, nườm nượp phật tử, du khách thập phương khói hương nghi ngút. Còn vào những ngày thường, chùa Láng trở lại sự thanh tịnh vốn có. Dưới tán lá sum sê của những gốc đại thụ, thường là hình ảnh những cô cậu sinh viên ngồi ôn bài, những cụ già ở tuổi “xưa nay hiếm” ngồi đọc báo, hay lặng yên hưởng chút dư vị thanh bình hiếm hoi còn sót lại giữa lòng đô thị

Tài liệu cũ ghi chép rằng: Hội Láng không phải được tổ chức hàng năm mà cứ phải mươi, mười lăm năm nhất là vào những lúc mưa thuận gió hoà, những khi vận hội thanh bình, nhà nhà no ấm hội mới được mở. Hội được mở cùng ngày với hội chùa Thầy, nơi tu hành của đức thiền sư. Việc chuẩn bị cho lễ hội khá công phu, chẳng hạn phải có đủ số lượng các loại pháo để bắn khoảng nửa giờ trong nghi lễ đấu thần, chọn lựa và huấn luyện hai bộ đô tuỳ nội và ngoại. Bộ đô tuỳ nội có 18 trai đinh, phải là những người đang còn chịu tang, như có ý để tang cho Thánh phụ (Từ Vinh) sẽ rước kiệu từ chùa Láng đến cống Cót, rồi độ hà sang sông, chuyển kiệu cho đô tỳ ngoại gồm 36 người (18 người dự bị), rước kiệu đi tiếp sang tận Dịch Vọng Hậu và lại rước trở về chùa Cả.

Ngày mồng 5 bắt đầu hội, kiệu Thánh được rước lên chùa Nền để ông thăm lại nơi chào đời. Ngày hôm sau lại rước Thánh xuống chùa Tam Huyền ở làng Mọc dể thăm cha. Hai ngày này chỉ rước bát hương mà không rước tượng. Tối mồng 6 tượng ngài trong chùa Cả được rước ngự tại nhà bát giác để Thánh xem mười cô gái xiêm y lộng lẫy hát múa. Mồng 7, chính hội có đám rước lớn có hai lá cờ tiết mao đi đầu. Nối theo là hai hàng chiêng trống. Có cả con đĩ đánh bồng và long đình gồm rất nhiều cờ, quạt, lọng, phướn theo sau. Lễ hội chùa Láng thực chất là lễ hội mùa xuân của cả một vùng gồm nhiều làng ở hai bên bờ sông Tô Lịch Hà Nội trước kia nên có những nét khác lạ. Từ chùa ra tới đường cái đám rước đi rất chậm, ra đến cổng làng thì tốc độ mới tăng dần lên. Vừa có lễ dành cho Thánh, vừa có lễ dành cho Phật lại vừa có lễ dành cho thiên tử tượng trưng cho 3 kiếp hoá của Từ Đạo Hạnh         

Cái độc đáo làm nên nét riêng của lễ hội là hình thức trình diễn đấu thần. Tới cửa chùa Thánh Tổ (thờ Đại Điên) đám rước dừng lại, pháo lệnh nổ vang, rồi tiếp đó hàng loạt pháo thăng thiên và pháo chuột được đốt phóng sang chùa Thánh Tổ, sang chỗ kiệu Đại Điên đang núp. Đúng chính ngọ (12 giờ trưa) đám rước thật nhanh đi về chùa Cả. Đêm đó có hát chèo vãn hội. Hội Láng đã cho ta thấy sinh động cảnh sinh hoạt của người Việt đời Lý. Xưa kia dường như Đạo và Đời hoà vào làm một chính vì thế những ngôi chùa dọc hai bờ Tô giang liên quan đến sự tích Từ Đạo Hạnh vẫn được dân gian gọi là đền. Hình thức hội Láng nằm trong hệ thống các phong tục hội hè miền phụ cận kinh thành Thăng Long. Trải nhiều đời, nó đã góp vào quá trình sinh hoạt văn hoá dân gian chốn đế đô một tổng thể lễ tiết phong phú và độc đáo

Chùa Láng – nơi hội tụ nhiều giá trị đặc sắc – là di tích cổ sáng giá bậc nhất của Thủ đô ta. Vào tháng 7-2001, tại kỳ họp thứ 5 HĐND thành phố khoá 12 đã ra nghị quyết đặt đoạn đường từ phố Nguyễn Chí Thanh qua chùa Láng đến đường Láng dài 1000m rộng 5m là phố Chùa Láng.

Chia sẻ